Quy định ký hiệu bản đồ địa chính

KÝ HIỆU BẢN ĐỒ ĐỊA CHÍNH TỶ LỆ  1:200, 1:500, 1:1000, 1:2000, 1:5000 VÀ 1:10 000  được Ban hành kèm theo Thông tư số:    /2009/QĐ-BTNMT   năm 2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường

1. Bộ ký hiệu này được thống nhất sử dụng chung cho tất cả các loại bản đồ địa chính cơ sở, bản đồ địa chính và bản trích đo địa chính tỷ lệ: 1:200; 1:500; 1:1 000; 1:5 000; 1:10 000. Những trường hợp đặc biệt chỉ áp dụng cho một loại bản đồ hay một loại tỷ lệ sẽ có quy định trong ký hiệu và giải thích ký hiệu.

2. Mỗi ký hiệu có một số thứ tự gọi là số ký hiệu. Số thứ tự của phần giải thích tương ứng với số thứ tự của ký hiệu. Một giải thích có thể bao gồm nội dung chung cho một số ký hiệu, ký hiệu nào không cần giải thích sẽ không có trong phần giải thích.

3. Ký hiệu chia làm 3 loại: – Ký hiệu vẽ theo tỷ lệ: vẽ đúng theo kích thước của địa vật tính theo tỷ lệ bản đồ. – Ký hiệu vẽ nửa theo tỷ lệ: ký hiệu có một chiều tỷ lệ với kích thước thực của địa vật, chiều kia biểu thị quy ước, không vẽ theo tỷ lệ bản đồ. – Ký hiệu không theo tỷ lệ là ký hiệu vẽ quy ước, không theo đúng tỷ lệ kích thước của địa vật, các ký hiệu này dùng trong trường hợp địa vật không vẽ được theo tỷ lệ bản đồ và một số trường hợp địa vật vẽ được theo tỷ lệ nhưng cần sử dụng thêm ký hiệu quy ước đặt vào vị trí quy định để tăng thêm khả năng đọc, khả năng định hướng của bản đồ.

4. Kích thước, lực nét vẽ bên cạnh ký hiệu tính bằng milimét. Những ký hiệu không có ghi chú lực nét đều dùng nét vẽ có lực nét 0,15 – 0,20mm để vẽ. Những ký hiệu nào không chỉ dẫn kích thước thì vẽ theo hình dạng và kích thước ký hiệu mẫu trong tập ký hiệu này. Các kiểu chữ trình bày trên bản đồ địa chính được chọn dựa trên bộ font chữ Vnfontdc.rsc được thiết kế trong phần mềm Famis. Kiểu và cỡ chữ ghi chú 4 trên bản đồ phải tuân theo mẫu chữ quy định trong tập ký hiệu. Nói chung các chữ, số ghi chú bản đồ đều bố trí song song với khung Nam của bản đồ trừ các ghi chú phải bố trí theo hướng địa vật hình tuyến như đường giao thông, kênh, mương, sông, ngòi, ghi chú bình độ hay các ghi chú thửa hẹp phải kéo dài theo thửa .v.v… Khi bố trí ghi chú theo hướng địa vật phải cố gắng để đầu các ghi chú hướng lên phía trên, không quay ngược xuống dưới khung Nam bản đồ.

5. Tâm của các ký hiệu được bố trí tương ứng với vị trí tâm của các địa vật ngoài thực địa. Tâm của các ký hiệu được quy ước như sau: – Ký hiệu có dạng hình học: hình tròn, hình vuông, tam giác, chữ nhật… Tâm của ký hiệu là tâm địa vật. – Ký hiệu có vòng tròn ở chân: trường học, trạm biến thế… tâm vòng tròn là tâm địa vật. – Ký hiệu tượng hình có đường đáy: đình, chùa, tháp… tâm ký hiệu là điểm giữa của đường đáy. – Ký hiệu hình tuyến: đường bờ, đường giao thông và sông suối 1nét,… trục tâm ký hiệu là trục tâm địa vật.

6. Các điểm khống chế đo vẽ phải được thể hiện lên bản đồ bằng tọa độ, với độ chính xác cao theo quy định của quy phạm, không được xê dịch và phải được ưu tiên trong quá trình biên tập bản đồ địa chính. Giao điểm lưới tọa độ và góc khung bản đồ cũng được đưa lên bản đồ bằng tọa độ.

7. Các yếu tố nội dung của bản đồ địa chính nói chung có thể vẽ được theo tỷ lệ và đúng vị trí. Riêng đối với các tỷ lệ 1: 2000, 1:5000, 1:10 000 có một số đối tượng phải thể hiện bằng ký hiệu vẽ nửa theo tỷ lệ hoặc không theo tỷ lệ. Trên bản đồ các tỷ lệ này có một số đối nếu vẽ đúng vị trí thì ký hiệu sẽ bị đè lên nhau. Trường hợp này cho phép xê dịch đối tượng ít quan trọng hơn trong khoảng 0,1mm đến 0,3mm để thể hiện rõ từng địa vật. Lưu ý riêng với ranh giới thửa đất luôn phải vẽ đúng vị trí. 8. Bản đồ địa chính thể hiện bằng 3 màu: đen, ve đậm, nâu. Các màu để thể hiện bản đồ địa chính phải rõ ràng, đủ độ đậm cần thiết để có thể photocopy, phiên bản hay chụp ảnh khi cần trong quá trình sử dụng bản đồ.

 


Đánh giá:

0 votes, 0 avg. rating

Chia sẻ:

Văn Kỳ

Di chuyển đến nhận Xét